Thịt nhập khẩu giá thấp đang mở rộng từ các kho phân phối đến chợ đầu mối, tạo sức ép trực tiếp lên thịt sản xuất trong nước và đặt ra vấn đề về kiểm soát chất lượng.

Tại một kho thực phẩm đông lạnh ở phường Khương Đình, hơn chục công nhân cắt xẻ, đóng gói thịt bò, thịt heo nhập khẩu để giao cho khách mỗi sáng. Thịt ba chỉ heo từ Nga được chào 97.000-117.000 đồng/kg, trong khi đùi gà, tim heo tại một chợ đầu mối phía Nam Hà Nội chỉ 53.000 đồng/kg.

Nhân viên kho cho biết hàng được luân chuyển liên tục, khoảng ba ngày có một lô mới, phục vụ từ nhà hàng đến quán ăn và bếp tập thể. Anh T.V.X., chủ một đơn vị cung ứng thực phẩm sạch nội địa tại Hà Nội, thừa nhận hàng nhập “ngày càng chiếm ưu thế do giá cạnh tranh”, dù thịt nội có lợi thế về độ tươi và giấy tờ kiểm định.

Theo Cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập 595.700 tấn thịt và sản phẩm từ thịt, trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng so với cùng kỳ 2025. Đến giữa tháng 9, giá trị nhập khẩu đã vượt 2 tỷ USD, trong khi giá nhập khẩu bình quân toàn ngành khoảng 77.500 đồng/kg.

Thịt heo cho thấy rõ khoảng cách về giá khi 112.090 tấn được nhập trong 7 tháng, với giá bình quân khoảng 43.000 đồng/kg, giảm 38,4% so với cùng kỳ dù lượng tăng 27,1%. Thịt gia cầm có giá bình quân chỉ hơn 26.000 đồng/kg và chiếm hơn một phần ba tổng lượng nhập, còn Nga, Mỹ, Brazil và Hàn Quốc chiếm gần 82% nguồn cung.

Dòng hàng giá thấp cũng đi kèm rủi ro kiểm soát. Cuối tháng 1/2026, Công an TP Hà Nội phối hợp Cục C05 thu giữ hơn 10 tấn thực phẩm đông lạnh không rõ nguồn gốc tại Gia Lâm; trước đó, một cơ sở tại Hà Nội bị phát hiện cấp đông 59 tấn lòng heo trôi nổi trong 4-6 tháng, nhiều phần đã đổi màu và bốc mùi.

Nguyên nhân của lợi thế giá không chỉ nằm ở quãng đường vận chuyển. Theo một chuyên gia ngành chăn nuôi được báo Thanh Niên dẫn lời, việc Trung Quốc hạn chế nhập thịt khiến Brazil, Mỹ phải tìm thị trường thay thế, trong đó Việt Nam hấp dẫn nhờ dân số đông và thương mại mở.

Sản xuất công nghiệp hóa toàn chuỗi, từ nguyên liệu thức ăn chăn nuôi đến logistics, giúp các nước xuất khẩu giảm giá thành, trong khi hộ chăn nuôi nhỏ lẻ trong nước khó đạt quy mô tương tự. Ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, nhận định: “Trước đây, ngành chăn nuôi trong nước vẫn tự tin rằng thói quen của người tiêu dùng nội địa là thích ăn thịt nóng, thịt tươi. Nhưng gần đây xu hướng dùng thịt mát, thịt nhập khẩu cũng đã tăng lên nhiều… lợi thế của chăn nuôi nội địa đang bị thách thức nghiêm trọng”.

Nếu giá nhập tiếp tục thấp trong khi chi phí trong nước không giảm tương ứng, lợi nhuận của người chăn nuôi sẽ bị thu hẹp, nguy cơ giảm đàn và tăng phụ thuộc nguồn ngoại nhập có thể xuất hiện. Ở khâu hậu kiểm, người bán cho rằng “rất khó tìm hàng lậu không giấy tờ”, nhưng cũng thừa nhận “không loại trừ có mặt hàng bảo quản không đảm bảo, sản phẩm cận date hoặc hết date nhưng vẫn được cấp đông và bán ra thị trường”.

Điều đó cho thấy giấy tờ của một lô hàng chưa đủ để phản ánh toàn bộ chất lượng nếu quá trình bảo quản và hậu kiểm không được kiểm soát đến cùng.

Vũ Quyến (tổng hợp).