1,6 triệu thanh niên ngoài thị trường lao động: Bằng giỏi vẫn khó tìm việc
Khoảng 1,6 triệu thanh niên Việt Nam từ 15 đến 24 tuổi không có việc làm, không học tập và không tham gia đào tạo trong quý III/2026. Thực trạng này đặt ra yêu cầu kết nối tốt hơn giữa đào tạo, tuyển dụng và chính sách hỗ trợ người trẻ.
- Nhật Bản: Phó thị trưởng tử vong sau tai nạn với kiệu lễ hội 3 tấn
- Thái Nguyên khẩn trương xác minh hiện tượng nước sông Cầu đổi màu
- Thanh Hóa xử phạt 31 vụ vi phạm động vật hoang dã từ đầu năm
Thanh Tú, 22 tuổi, tốt nghiệp loại Giỏi tại một trường đại học ở Hà Nội vào tháng 7 vừa qua nhưng vẫn chật vật tìm việc. Do chi phí sinh hoạt tại thủ đô cao, cô trở về Phú Thọ tìm cơ hội việc làm. Tuy nhiên, sau một buổi phỏng vấn, Tú quyết định không tiếp tục theo đuổi công việc vì cho rằng các yêu cầu và thủ tục chưa phù hợp với mong muốn của bản thân.
Tú cho biết mình từng làm nhân viên kinh doanh nhưng cảm thấy áp lực, sau đó chuyển sang công việc nhập liệu, gán nhãn dữ liệu phục vụ huấn luyện trí tuệ nhân tạo. Công việc ít áp lực hơn nhưng lặp đi lặp lại, thiếu cơ hội phát triển chuyên môn. Dù có bằng Giỏi, cô vẫn gặp khó khăn khi nhiều doanh nghiệp yêu cầu ứng viên mới ra trường phải có ít nhất một năm kinh nghiệm, trong khi thời gian thực tập thường chỉ kéo dài 1-3 tháng.
Trường hợp của Trung Hiếu, 23 tuổi, tốt nghiệp ngành thiết kế đồ họa năm ngoái, cũng cho thấy khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu tuyển dụng. Dù có đồ án tốt nghiệp và một số sản phẩm thực hành, Hiếu vẫn chưa tìm được công việc phù hợp do nhiều doanh nghiệp đòi hỏi kinh nghiệm thực tế, thành thạo phần mềm chuyên môn và khả năng đáp ứng tiến độ. Sau nhiều tháng tìm việc không thành, anh dần mất động lực và chưa xác định được hướng đi tiếp theo.
Hai câu chuyện phản ánh những khó khăn khác nhau của người trẻ khi bước vào thị trường lao động: thiếu kinh nghiệm, chưa xác định rõ thế mạnh, kỹ năng chưa đáp ứng yêu cầu công việc và áp lực sau nhiều lần ứng tuyển thất bại. Tuy nhiên, tình trạng không có việc làm, không học tập và không tham gia đào tạo không thể chỉ được lý giải bằng tâm lý ngại làm hay lựa chọn nghề nghiệp chưa phù hợp.
Theo số liệu được bài báo dẫn lại, quý III/2026 có khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi thuộc nhóm “3 không”. Tại Hà Nội, trong tháng 9, ước tính có khoảng 45.000 người có nhu cầu tìm việc; nhóm có trình độ đại học trở lên chiếm 33,4%. Những con số này cho thấy nhu cầu tìm việc xuất hiện ở nhiều nhóm trình độ, đồng thời đặt ra yêu cầu cải thiện khả năng kết nối giữa người lao động và doanh nghiệp.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng những người trẻ nằm ngoài môi trường học tập, đào tạo và việc làm trong thời gian dài có nguy cơ mất dần kỹ năng, kinh nghiệm và sự tự tin. Bà lưu ý nguyên nhân có thể đến từ việc thiếu cơ hội phù hợp, hạn chế kỹ năng, khó khăn kinh tế, sức khỏe, trách nhiệm chăm sóc gia đình hoặc tâm lý nản lòng sau nhiều lần tìm việc không thành công.
Để giải quyết vấn đề, đại biểu đề xuất tăng cường phối hợp giữa Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, chính quyền địa phương và tổ chức Đoàn nhằm nhận diện, tiếp cận và hỗ trợ thanh niên “3 không”. Trung tâm dịch vụ việc làm cần chủ động kết nối với trường học, địa phương và doanh nghiệp để hỗ trợ người trẻ, đặc biệt trong giai đoạn sau tốt nghiệp hoặc mất việc.
Việc hỗ trợ cũng cần phù hợp với từng hoàn cảnh. Người thiếu kỹ năng cần được đào tạo nghề sát nhu cầu tuyển dụng; người đã có chuyên môn cần được hỗ trợ hoàn thiện kỹ năng ứng tuyển và kết nối doanh nghiệp. Với người vướng trách nhiệm chăm sóc gia đình, cần xem xét lịch học linh hoạt, dịch vụ giữ trẻ và các hình thức việc làm phù hợp. Những trường hợp gặp khó khăn về tâm lý cũng cần được tư vấn, đồng hành.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức thực hành và đánh giá kỹ năng. Nhà nước có thể nghiên cứu hỗ trợ một phần chi phí đào tạo tại doanh nghiệp cho thanh niên khó khăn, đi kèm yêu cầu bảo đảm hướng dẫn nghề, an toàn lao động, thù lao và quyền lợi của người tham gia.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cũng nhấn mạnh việc làm cần gắn với khả năng tiếp cận nhà ở, đi lại, chăm sóc trẻ em và dịch vụ y tế. Hiệu quả chính sách nên được đánh giá bằng tỷ lệ người trẻ quay lại học tập, hoàn thành đào tạo, có việc làm và duy trì việc làm sau 6 tháng hoặc 12 tháng, thay vì chỉ tính số người tham gia chương trình.
Thực trạng 1,6 triệu thanh niên “3 không” cho thấy giải quyết bài toán việc làm không chỉ là trách nhiệm của người lao động. Cơ quan quản lý cần có chính sách hỗ trợ phù hợp, cơ sở đào tạo phải gắn chương trình với nhu cầu thực tế, còn doanh nghiệp cần tạo thêm cơ hội để người trẻ tích lũy kinh nghiệm và phát triển nghề nghiệp bền vững.
Tâm Thanh (tổng hợp)