Chuối hột quen thuộc trong dân gian, từ quả, hạt đến củ đều được sử dụng theo nhiều cách. Loại quả này chứa các hợp chất chống oxy hóa nhưng cần dùng đúng cách để tránh ảnh hưởng sức khỏe.

Chuối hột được trồng phổ biến ở Việt Nam, không chỉ lấy quả mà nhiều bộ phận của cây còn được sử dụng làm dược liệu. Quả xanh có thể dùng như rau, trong khi quả chín có thể ăn. Tuy nhiên, chuối hột chín không được nhiều người lựa chọn vì vị không ngon và chứa nhiều hạt cứng.

Theo bác sĩ chuyên khoa 2 Huỳnh Tấn Vũ, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM cơ sở 3, quả chuối hột chứa một số hợp chất polyphenol như catechol, epicatechin, kaempferol và quercetin. Đây là những chất có khả năng chống oxy hóa, giúp trung hòa các gốc tự do và góp phần giảm stress oxy hóa.

Trong y học cổ truyền, chuối hột có tác dụng lương huyết, thoái nhiệt và lợi tiểu. Quả xanh được sử dụng trong một số bài thuốc dân gian liên quan đến sỏi đường tiết niệu. Hạt chuối hột cũng được rang, nghiền thành bột và dùng theo kinh nghiệm dân gian với mục đích hỗ trợ tống sỏi.

Không chỉ quả và hạt, một số bộ phận khác của cây chuối hột cũng được sử dụng trong dân gian. Củ chuối hột có mặt trong một số bài thuốc dành cho trường hợp sốt cao. Thân cây non có nơi được dùng lấy nước để ngậm khi đau răng. Một số tài liệu nước ngoài cũng ghi nhận nước sắc từ thân và lá có tác dụng lợi tiểu.

Dù có nhiều công dụng, người dân không nên sử dụng chuối hột quá mức. Dùng nhiều, nhất là dạng bột hạt hoặc nước sắc đậm đặc, có thể gây đầy bụng, khó tiêu hoặc rối loạn tiêu hóa. Người dùng chế phẩm giàu chất xơ cần uống đủ nước và sử dụng với lượng phù hợp.

Chuối hột có giá trị trong đời sống và y học cổ truyền nhưng không thể thay thế thuốc điều trị. Người mắc bệnh không nên tự ý ngừng thuốc bác sĩ kê để dùng chuối hột. Khi sử dụng loại quả này với mục đích hỗ trợ sức khỏe, nên tham khảo ý kiến người có chuyên môn.

Thành Luân (tổng hợp)