Đất bố mẹ cho riêng con trai, con dâu yêu cầu chia đôi
Khi ly hôn, người vợ yêu cầu chia đôi cả nhà và đất, nhưng tòa xác định quyền sử dụng đất được cha chồng tặng riêng cho người chồng, còn căn nhà xây trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của hai người.
- Công an Hải Phòng xác định nguyên nhân vụ học sinh tử vong tại trường
- Thái Nguyên bắt 2 bị can trong vụ án xâm hại người dưới 16 tuổi
- Đường dây ma túy xuyên quốc gia và cái giá phải trả
Ông N. và bà A. kết hôn năm 2011, có một con chung và sinh sống tại TP Đà Nẵng. Trong thời kỳ hôn nhân, hai người cùng tạo lập ngôi nhà 2 tầng trên thửa đất do cha ông N. tặng riêng cho con trai, cùng các vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình.
Sau nhiều năm chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ năm 2019. Khi ly hôn, hai bên tranh chấp quyền nuôi con, phân chia tài sản và xác định trách nhiệm đối với các khoản nợ. Ông N. cho rằng mình đóng góp nhiều hơn vào việc xây nhà nên đề nghị được hưởng 70% giá trị căn nhà, trong khi bà A. yêu cầu chia đôi tài sản chung và nhận phần được chia bằng tiền.
Đối với quyền sử dụng đất, ông N. xác định đây là tài sản riêng do cha tặng cho nên không yêu cầu tòa giải quyết. Ngược lại, bà A. cho rằng đất được tặng cho cả hai vợ chồng và đề nghị chia đôi cả nhà lẫn đất. Bà cũng muốn trực tiếp nuôi con, với lý do có công việc ổn định, thu nhập bình quân 8 triệu đồng mỗi tháng, còn chồng không có việc làm ổn định.
Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang cũ, TP Đà Nẵng, xác định quyền sử dụng đất đứng tên cá nhân ông N. theo hợp đồng tặng cho ngày 11/1/2016. Cha ông N. xác nhận chỉ tặng đất cho riêng con trai. Trong khi đó, bà A. không đưa ra được chứng cứ chứng minh đất được tặng cho cả hai người hoặc hai vợ chồng đã thỏa thuận nhập thửa đất vào tài sản chung. Vì vậy, tòa không chấp nhận yêu cầu chia đôi quyền sử dụng đất.
Đối với căn nhà 2 tầng và các vật dụng trong gia đình, hai bên đều thừa nhận đây là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Tòa nhận định việc xây nhà có sự đóng góp của cả hai: ông N. quán xuyến việc mua vật liệu, thuê thợ và trả nợ; bà A. lo chi phí ăn uống, sinh hoạt và nuôi con. Do đó, đề nghị của ông N. được hưởng 70% giá trị căn nhà không được chấp nhận, giá trị căn nhà được chia đôi.
Ngoài tranh chấp nhà đất, hai người còn bất đồng về các khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Ông N. cho rằng vợ chồng nợ chung hơn 264 triệu đồng, phần lớn là tiền mua vật liệu xây nhà. Bà A. không đồng ý và cho rằng chưa có căn cứ xác định các khoản tiền này là nợ chung.
Theo công ty cung cấp vật liệu xây dựng, từ ngày 21/3 đến 28/8/2016, vợ chồng ông N. mua vật liệu trị giá hơn 206 triệu đồng, đã trả 22 triệu đồng và còn nợ hơn 184 triệu đồng. Bà A. thừa nhận việc mua vật liệu nhưng cho rằng khoản nợ đã được thanh toán hết, song không cung cấp được chứng cứ chứng minh.
Tòa nhận định việc xây nhà chủ yếu do ông N. đứng ra thu xếp. Nếu không mua chịu vật liệu và vay mượn thêm, hai vợ chồng không đủ tiền xây dựng công trình. Vì vậy, khoản nợ hơn 184 triệu đồng với công ty vật liệu xây dựng được xác định là nợ chung.
Đối với khoản vay 30 triệu đồng và 5,1 chỉ vàng từ bà Tr., người này cho biết đã cho vợ chồng ông N. mượn để xây nhà. Khi đặt vấn đề vay, cả ông N. và bà A. đều có mặt; tuy nhiên, lúc giao tiền và vàng, bà A. không ở nhà. Do tình nghĩa chị em, bà Tr. không yêu cầu viết giấy vay nợ và cho biết bà A. biết sự việc.
Tòa xác định khoản nợ hơn 184 triệu đồng với công ty vật liệu xây dựng cùng khoản nợ bà Tr. 30 triệu đồng và 5,1 chỉ vàng là nợ chung. Hai vợ chồng mỗi người có trách nhiệm thanh toán một nửa các khoản nợ này.
Riêng khoản vay 80 triệu đồng từ bà P., ông N. cho rằng tiền được mượn để trả các khoản nợ ngân hàng của hai vợ chồng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh đây là nợ chung. Do đó, tòa xác định đây là nợ riêng của ông N. và buộc người chồng trả cho bà P. 50 triệu đồng.
Tâm Thanh (tổng hợp)